Cơ chế điều hành hàng dệt may xuất khẩu sang Hoa Kỳ năm 2007

3/13/2007

Thứ trưởng Thương mại Lê Danh Vĩnh cho biết về Cơ chế điều hành hàng dệt may xuất khẩu sang Hoa Kỳ năm 2007.

Hỏi: Thứ trưởng cho biết, tại sao Liên Bộ Thương mại và Công nghiệp Việt Nam phải thực hiện cơ chế điều hành hàng dệt may xuất khẩu sang Hoa Kỳ trong năm 2007?

 

Thứ trưởng Lê Danh Vĩnh: Theo Hiệp định về hàng dệt may của WTO, ngay khi trở thành thành viên chính thức của WTO vào ngày 11-1-2007, Việt Nam phải được các nước thành viên WTO, kể cả Hoa Kỳ dỡ bỏ hạn ngạch hàng dệt may xuất khẩu từ Việt Nam đi các nước thành viên WTO, trong đó có Hoa Kỳ. Từ ngày 1-1-2005, do Việt Nam đã được EU, Canada dỡ bỏ việc áp dụng hạn ngạch hàng dệt may nên chỉ còn Hoa Kỳ và Thổ Nhĩ Kỳ còn áp đặt hạn ngạch đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam vào các nước đó. Vì thế, việc dỡ bỏ hạn ngạch hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam từ ngày 11-1-2007 chỉ liên quan đến Hoa Kỳ và Thổ Nhĩ Kỳ.

 

Tuy nhiên, trong khi tuân thủ Hiệp định về hàng dệt may của WTO, Thổ Nhĩ Kỳ đã bãi bỏ việc áp đặt hạn ngạch đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam, thì từ ngày 11-1-2007, phía Hoa Kỳ lại công bố triển khai cơ chế giám sát chặt chẽ hàng dệt may của Việt Nam. Hiện tại đang trưng cầu ý kiến các bên liên quan để hoàn thiện cơ chế giám sát này. Theo cơ chế này, việc rà soát sẽ được thực hiện 6 tháng một lần và trong trường hợp xấu nhất họ có thể tự khởi động điều tra chống bán phá giá và áp dụng thuế chống bán phá giá đối với một hoặc nhiều mặt hàng dệt may từ Việt Nam.

 

Trước hết, tôi muốn khẳng định rằng, việc giám sát này là hoàn toàn đơn phương từ phía Hoa Kỳ (Bộ Thương mại Hoa Kỳ và Đại diện thương mại Hoa Kỳ) gửi thư cam kết đối với yêu cầu của hai thượng nghị sĩ Mỹ từ bỏ việc “trì hoãn - HOLD” Quốc hội Hoa Kỳ thông qua quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn đối với Việt Nam.

 

Chính phủ, các cơ quan hữu quan, Hiệp hội Dệt may Việt Nam và cộng đồng các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu hàng dệt may đã nhiều lần phản đối, kể cả gửi công hàm cho phía Hoa Kỳ vì cho rằng cơ chế này là vi phạm Hiệp định về hàng dệt may của WTO, các nguyên tắc không phân biệt đối xử của WTO và các cam kết giữa hai nước về việc Việt Nam gia nhập WTO.

 

Chúng ta khẳng định, Việt Nam nghiêm chỉnh thực hiện các cam kết quốc tế và trên thực tế Việt Nam không có khả năng bán phá giá hàng dệt may nói riêng và các mặt hàng khác nói chung sang thị trường các nước.Thủ tướng Chính phủ cũng đã hủy Quyết định số 55 – TTg về phát triển ngành dệt may đến năm 2010 (trong đó có một số biện pháp hỗ trợ cho ngành dệt may).

 

Tuy nhiên, nhiều nhà nhập khẩu, trong đó có một số nhà nhập khẩu lớn của Hoa Kỳ hết sức lo ngại những rủi ro do cơ chế giám sát này gây ra và dè dặt trong việc đặt hàng dệt may tại Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ từ quý 3-2007. Theo yêu cầu của các doanh nghiệp sản xuất hàng dệt may xuất khẩu, Hiệp hội dệt may Việt Nam, Phòng Thương mại, công nghiệp Hoa Kỳ tại Việt Nam (Amcham) và để tăng cường niềm tin của các nhà nhập khẩu, nâng cao giá trị hàng xuất khẩu, giảm thiểu các lô hàng đơn giản có đơn giá thấp, quản lý tốt quá trình tăng trưởng xuất khẩu, tạo lập thị trường xuất khẩu phát triển ổn định vững chắc, bảo đảm các lợi ích lâu dài cho các doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may, chống chuyển tải bất hợp pháp và gian lận thương mại, Liên Bộ Thương mại – Bộ Công nghiệp sau khi xin ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ đã quyết định áp dụng cơ chế điều hành xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ theo hướng giám sát các mặt hàng dệt may mà phía Hoa Kỳ dự kiến giám sát. Trong thời gian chờ kết nối mạng giữa Tổng cục Hải quan và Bộ Thương mại để có số liệu về lượng và giá xuất khẩu để điều hành, tạm thời Bộ Thương mại sẽ cấp giấy phép xuất khẩu E/L cho các lô hàng xuất khẩu sang Hoa Kỳ kể từ ngày 15-3-2007. Thông tư 03/2007/TTLT/BTM/BCN ra đời nhằm đáp ứng các mục tiêu đó.

 

Hỏi: Thứ trưởng cho biết các chủng loại cần phải cấp phép?

 

Thứ trưởng Lê Danh Vĩnh: Theo dự kiến của Hoa Kỳ, các mặt hàng dệt may sẽ bị giám sát thuộc 5 nhóm là áo sơ mi, quần dài, đồ bơi, đồ lót và áo len, bao gồm 14 Cat., giảm 9 Cat. so với 25 mặt hàng dệt may được áp dụng hạn ngạch từ trước ngày 11-1-2007. Hiện tại các Cat., cần giám sát như quy định tại thông báo 0616/BTM-DM ngày 29-12-2006. Tùy theo từng thời kỳ,Liên Bộ có thể điều chỉnh và chuyển sang giám sát theo mã số (HS) và Cat. khi điều kiện cho phép.

 

Hỏi: Vậy khi Liên Bộ cho cấp phép E/L hàng dệt may xuất khẩu sang Hoa Kỳ như vậy có làm tăng thủ tục hành chính và chi phí, gây phiền hà cho doanh nghiệp?

 

Thứ trưởng Lê Danh Vĩnh: Cuối tháng 12-2006, Liên Bộ đã phối hợp với Hiệp hội Dệt may tổ chức Hội nghị ba miền thảo luận lấy ý kiến về việc xây dựng cơ chế giám sát hàng dệt may, trong đó có tham vấn về việc cấp E/L 85,3% doanh nghiệp đồng ý cấp phép và có đăng ký trước kế hoạch giao hàng theo quý. Như vậy, việc cấp phép trong thời gian tới cũng nhằm đáp ứng nguyện vọng của đông đảo doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may đi Hoa Kỳ. Hơn nữa, việc cấp E/L rất đơn giản, miễn phí và không gây thêm bất cứ phiền hà nào cho doanh nghiệp.

 

Tôi xin nói thêm, từ ngày 1-1-2005, tuy EU đã bỏ hạn ngạch dệt may cho Việt Nam nhưng cho đến nay cơ chế cấp E/L để tự giám sát vẫn được áp dụng và các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu hàng dệt may, Hiệp hội Dệt may Việt Nam vẫn ủng hộ chủ trương này.

 

Theo cơ chế cấp visa trước đây, các doanh nghiệp tự làm đơn và được cấp E/L cho mỗi lô hàng xuất khẩu sau khi đã gửi đăng ký lượng và giá xuất trước theo quý cho Bộ Thương mại. Còn theo cơ chế hiện nay, việc cấp E/L có thể được thực hiện trước hoặc sau khi hàng được xuất khẩu nên không bắt buộc tờ khai xuất khẩu và chứng từ vận tải.

 

Tôi xin lưu ý các doanh nghiệp là Nhà nước không hề có ý định hạn chế số lượng xuất khẩu của các doanh nghiệp nên các doanh nghiệp yên tâm nhận các đơn hàng lớn. Tuy nhiên, để giảm thiểu các lô hàng đơn giản có đơn giá thấp, quản lý tốt quá trình tăng trưởng xuất khẩu, Liên Bộ sẽ tổng hợp và hiệp thương hướng dẫn các doanh nghiệp và Hiệp hội dệt may Việt Nam để xử lý các trường hợp cụ thể, tránh ảnh hưởng tới quyền lợi của tuyệt đại đa số các doanh nghiệp làm ăn chân chính, nghiêm túc và công ăn việc làm của hơn hai triệu công nhân ngành dệt may nước ta. Trường hợp tổng hợp dữ liệu của các Cat., không có sự đột biến trong việc tăng nhanh về số lượng xuất khẩu và giảm nhiều về giá xuất khẩu thì các doanh nghiệp vẫn có thể xuất khẩu những lô hàng dệt may có mẫu mã đơn giản, giá rẻ.

Thương mại