Hiệu quả kinh tế biển: Vẫn chỉ là nhặt nhạnh
Theo PGS-TS Nguyễn Chu Hồi, Viện trưởng Viện Kinh tế và quy hoạch thuỷ sản (Bộ Thuỷ sản), năng lực khai thác biển của Việt Nam chỉ bằng 1/7 Hàn Quốc, 1/20 Trung Quốc, 1/94 của Nhật Bản, 1/260 của thế giới. Trong khi Việt
Hoạt động khai thác thuỷ sản ở vùng ven bờ và thềm lục địa, chiếm khoảng 80% lượng thuỷ sản khai thác toàn quốc. Nuôi trồng thuỷ sản nước lợ tiến hành ở vùng ven bờ biển đóng góp gần 90% tổng sản lượng thuỷ sản toàn quốc, đáp ứng gần 40% lượng chất đạm (protein) của cả nước. Chưa kể với một diện tích rừng ngập mặn lớn, theo GS Nguyễn Tác An - chủ tịch Uỷ ban quốc gia chương trình Hải dương học liên chính phủ (IOC) - nếu biết cách khai thác, giá trị của rừng ngập mặn của Việt Nam lên khoảng hơn 100.000 USD/ha/năm.
Ông An cho rằng, giá trị cụ thể của lượng vật chất khai thác từ biển mà con người vẫn cân đong đo đếm như hiện nay là rất nhỏ so với giá trị thực tế của biển. Biết khai thác, nguồn thu nhập có thể lên đến hàng nghìn lần so với những gì mà người dân ven biển nhặt nhạnh hiện nay. Đó chính là lý do tại sao ở gần “bạc” mà bao đời nay vẫn nghèo. Ở những quốc gia khác, trung bình 1km2 biển, giá trị khai thác lên đến 100.000 USD, trong khi con số này ở Việt
Khai thác bừa bãi...
Ông Bùi Văn Tiếng, Bí thư quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng nói: "Việt
Đây chính là mâu thuẫn lợi ích giữa các ngành đang khai thác tài nguyên từ biển. “Không thể phát triển kinh tế biển theo kiểu, sở này thì phát động du lịch sinh thái biển, sở kia lại cấp phép và cổ xuý cho việc đóng tàu biển gây ô nhiễm vùng biển ven bờ”. Ông Nguyễn Chu Hồi nói. Nếu các cơ quan quản lý không sớm áp dụng cơ chế phối hợp liên ngành trong quản lý biển sẽ ảnh hưởng đến mục tiêu tăng trưởng kinh tế biển bền vững.
Với hơn 3.260 ki lô mét bờ biển; 112 cửa sông, lạch; 4.000 đảo lớn, nhỏ và hơn 1 triệu cây số vuông vùng biển. Bên cạnh các giá trị cảnh quan, quanh đảo còn quy tụ các hệ sinh thái quan trọng đối với nguồn lợi hải sản, đối với phát triển nghề cá và du lịch sinh thái biển. Tuy nhiên các đảo của Việt Nam đang được khai thác một cách tự phát, “mạnh ai nấy làm”, “thấy có cái gì thì khai thác cái đó”, hoàn toàn trực quan, thiếu quy hoạch và thiếu cơ sở khoa học.
Ông Trần Đình Thiên, Viện phó Viện Kinh tế Việt Nam cũng cho rằng, việc phát triển manh mún, khai thác tự nhiên, không có tầm nhìn chiến lược đã gây lãng phí lớn trong việc phát triển kinh tế biển.
Giải pháp nào?
Việt Nam không thể tiến ra biển theo lối tư duy nhỏ lẻ, với một hạm đội “thuyền thúng” mà phải chấp nhận đầu tư lớn và khai thác biển cũng phải được xây dựng thành một nghề thật sự, một nền công nghiệp theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá. Cần xây dựng một nền khoa học kinh tế biển hiện đại.
Phát triển một nền kinh tế biển hiệu quả bền vững và có khả năng hội nhập quốc tế. Cần có một phương thức quản lý biển tổng hợp đảm bảo được an ninh sinh thái và an sinh xã hội ở vùng biển đảo và ven biển.
Theo ông Hồi, quy hoạch phát triển kinh tế biển là cụ thể, nhưng cần đặt trong tư duy tổng thể phát triển hệ thống đảo và từng vùng biển. Đối với các cụm đảo nhỏ hoang sơ, nên phát triển kinh tế đảo với bảo tồn thiên nhiên, du lịch sinh thái biển đảo. Đối với các cụm đảo lớn, nên xây dựng các trung tâm kinh tế hải đảo toàn diện có bán kính ảnh hưởng rộng ra cùng xung quanh và là những cực tiếp nối quan trọng trong bình đồ tổ chức không gian biển.
Đẩy mạnh phát triển kinh tế biển bằng cách tận dụng nguồn lực và công nghệ hiện đại về khai thác biển từ nước ngoài cũng là ý kiến mà các đại biểu đưa ra tại buổi hội thảo.
Nhiều chuyên gia cho rằng điều quan trọng nhất là cả Nhà nước và người dân buộc phải thay đổi cách tư duy về quản lý và khai thác tài nguyên biển. Tư duy này không có nghĩa là ở bên cạnh biển mà phải đối mặt với biển, phải có bản năng chinh phục biển và chế ngự biển khơi. Có như vậy, mục tiêu “Việt
Biển Việt Nam là một trong 10 trung tâm đa dạng sinh học biển của thế giới, là nơi sinh kế trực tiếp của 300 triệu cư dân các nước quanh biển Đông và khoảng 20 triệu dân thuộc 28 tỉnh thành và thành phố ven biển. Biển Đông là khu vực có tuyến đường biển nhộn nhịp thứ 2 trên thế giới.
Kinh tế biển đóng góp 12% GDP và khoảng 50% giá trị xuất khẩu của cả nước. Riêng sản lượng hải sản ven bờ biển khai thác đã chiếm tới 80% tổng sản lượng. Trữ lượng cá toàn vùng biển Việt
Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản ước đạt hơn 3,2 tỉ USD. Tổng sản lượng thuỷ sản ước đạt hơn 3,7 triệu tấn, trong đó sản lượng nuôi trồng chiếm hơn 1,7 triệu tấn. Biển Việt
Mục tiêu, đến năm 2020, kinh tế biển đóng góp khoảng 53 - 55% GDP, 55 - 60% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống của nhân dân vùng biển và ven biển".









