Công nghiệp đóng tàu thời hội nhập WTO

7/25/2007

TCT Công nghiệp tàu thủy (CNTT) Việt Nam trở thành nòng cốt của Tập đoàn kinh tế Vinashin, là cơ sở tạo những điều cơ bản cho CN tàu thủy bước vào hội nhập. Chúng ta đều rõ là hội nhập với thế giới là một cơ hội. Đương nhiên, để vào được “sân chơi” này chúng ta phải chấp nhận “luật chơi”!

Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới công nghệ và trình độ quản lý chính là bước đi ban đầu. Tiếp đến là phát huy lợi thế so sánh, tạo ra những ngành, những sản phẩm mũi nhọn để chiếm lĩnh thị phần. Đây là vấn đề thuộc lĩnh vực cạnh tranh quốc gia, phải thông qua việc cải thiện môi trường và kinh doanh bằng một hệ thống pháp luật phù hợp.

Quá trình hội nhập vào WTO buộc chúng ta phải hoàn thiện các loại hình thị trường. Hàng hóa, dịch vụ, lao động, KH công nghệ, vốn bất động sản... tạo sự bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế, đặc biệt là hệ thống ngân hàng. Xuất phát từ yếu tố này mà sự hình thành một tập đoàn kinh tế Vinashin, lấy CN đóng tàu làm chủ đạo, sản phẩm đóng tàu sẽ trở thành sản phẩm phát huy tối đa lợi thế so sánh cỡ quốc gia, đồng thời sẽ thúc đẩy một số ngành khác phát triển.

Năm 2005, thế giới nổi lên cùng với 3 cường quốc đóng tàu chiếm giữ tới 87,7% thị phần của thế giới. Cả 3 nước này đều ở châu Á, Hàn Quốc chiếm 37% (82 triệu tấn tàu), Nhật Bản 33,9% (75 triệu tấn tàu) và Trung Quốc 16,8% (37 triệu tấn tàu).

Cả 3 quốc gia này đều chọn đóng tàu là một trong những sản phẩm so sánh để hội nhập và đã theo đuổi hướng này trên dưới 30 năm. Cũng thời gian này (2005), Trung Quốc đang xây dựng thêm những nhà máy mới, mở rộng và nâng cấp các nhà máy cũ, hy vọng cuối 2008 sẽ tăng số tấn tàu đóng mới lên 2 lần và năm 2015 tăng lên 3 lần.

Đối với chúng ta, cơ hội của hội nhập đã có, những hợp đồng tàu XK đã được ký kết với nhiều chủng loại, nhiều cỡ trọng tải với nhiều quốc gia. Song, chúng ta bước vào thị trường với điểm xuất phát quá thấp, bởi vậy chiến lược phát triển của Vinashin hội nhập, lộ trình được chia làm 3 giai đoạn:

- Giai đoạn 1 (từ 2001-2005) triển khai 6 chương trình mang tính đồng bộ tập trung nỗ lực để sản phẩm mang tính đột phá nhằm tạo thương hiệu, đổi mới công nghệ nâng cao năng lực SX của các cơ sở thành viên. Mở rộng SXKD đa dạng hóa sản phẩm và ngành nghề, ứng dụng thành tựu KHKT mới, huy động nguồn vốn kể cả vốn nước ngoài. Mở rộng hợp tác quốc tế nhằm đào tạo nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ và liên kết, liên doanh.

- Giai đoạn 2 (từ 2006-2010): Triển khai hoạt động theo các QĐ 103 và 104/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ theo mô hình tập đoàn. Hình thành một tập đoàn KT đa sở hữu, trong đó sở hữu Nhà nước là chi phối với 3 chương trình lớn.

- Giai đoạn sau 2010: Nâng cao thị phần để VN đứng vào hàng thứ 4 về CN đóng tàu thế giới. Những sản phẩm như tàu chở hàng, tàu chở dầu, tàu chở ô tô và các loại tàu đặc chủng khác đều có thể đóng mới ở VN với thời gian ngắn.

Theo tính toán của các nhà lãnh đạo Tập đoàn KT Vinashin thì sau 2010, ngành CN đóng tàu VN có khả năng đóng mới 5 triệu tấn tàu/năm. Sản lượng này chia đều cho 3 miền Bắc, TrungNam. Trong đó gam tàu chở hàng có trọng tải tới 75.000 DWT, tàu chở dầu có trọng tải 300.000 DWT.

Thời điểm này, khu CN tàu thủy Dung Quất đang khởi công đóng mới tàu chở dầu 100.000 DWT và những năm tới là 300.000 DWT. Hội nhập là cơ hội để CN đóng tàu phát triển. Tuy vậy, nội lực của CN đóng tàu nước ta phát huy tới quy mô nào, tiềm năng của đất nước được khai thác ở mức nào còn phụ thuộc vào định hướng chiến lược của đất nước.

 

Duy Tiến (GTVT)