Tàu biển Việt Nam bị lưu giữ ở nước ngoài - Đáng báo động! Kỳ I: Bức tranh toàn cảnh của ngành công nghiệp đóng tàu Việt Nam
Tỷ lệ tàu Việt Nam bị lưu giữ ở nước ngoài năm 2006 đã giảm xuống con số thấp nhất trong 7 năm qua (12,08%), đạt chỉ tiêu do Bộ Giao thông Vận tải đề ra là dưới 15%, nhưng vẫn còn rất cao so với tỷ lệ trung bình của khu vực châu Á - Thái Bình Dương là 5,4% và Việt Nam vẫn đứng ở vị trí thứ 7 trong số các quốc gia có tỷ lệ tàu bị lưu giữ cao nhất.
Ngành công nghiệp đóng tàu Việt Nam đã có những tiến bộ vượt bậc, cho ra đời những con tàu rất lớn và hiện đại, có thể hoạt động trên mọi đại dương. Các nhà máy đóng tàu Việt Nam đã cho ra đời các tàu chở container đến 1.100 TEU, tàu chở LASH 11.000 DWT, tàu chở dầu 13.500 DWT, tàu chở hàng rời 20.000, 22.500 và 53.000 DWT, tàu khách cao tốc hoạt động tuyến quốc tế; loạt tàu chở container 1.700 TEU, tàu chở hàng rời 54.000 DWT, tàu chở dầu 105.000 DWT và tàu chứa dầu 150.000 DWT đang được bắt đầu đóng mới. Theo kế hoạch, tàu chở dầu 115.000 DWT, 300.000 DWT, tàu chở ô tô 5.600 xe, tàu chở container 1.800 TEU, tàu chở hàng rời 70.000 DWT và tàu chở khách Bắc - Nam sẽ được đóng mới trong giai đoạn 2008 - 2010.
Ngoài các cơ sở đóng và sửa chữa tàu truyền thống tại Quảng Ninh, Hải Phòng, Nha Trang, TP.Hồ Chí Minh cũng đang xuất hiện thêm nhiều trung tâm đóng tàu mới tại Hải Dương, Nam Định, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Bình Định, Vũng Tàu, Tiền Giang, Cần Thơ, Cà Mau... với năng lực dự kiến có thể đóng được các siêu tàu dầu trên 300.000 tấn. Việt Nam đang hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia đóng tàu lớn thứ 4 trên thế giới. Các trung tâm đóng tàu trong cả nước hiện tại đang đóng mới 250 tàu biển có kích cỡ khác nhau. Đây sẽ là số lượng bổ sung đáng kể cho đội tàu biển Việt Nam trong thời gian tới.
Đội tàu biển Việt Nam đã có sự phát triển về cả chất và lượng. Theo Cục Đăng kiểm Việt Nam (VR), tính đến ngày 31/8/2007, Việt Nam đã có 1.194 tàu biển với tổng dung tích hơn 2,5 triệu tấn đăng ký và trọng tải toàn phần hơn 4 triệu tấn; trong đó có 432 tàu hoạt động tuyến quốc tế với tổng dung tích gần 1,95 triệu tấn đăng ký và trọng tải toàn phần gần 2,86 triệu tấn. Bên cạnh đội tàu mang cờ quốc tịch Việt Nam, các chủ tàu Việt Nam cũng đang quản lý và khai thác 42 tàu biển mang cờ quốc tịch nước ngoài với tổng dung tích gần 440 ngàn tấn đăng ký và trọng tải toàn phần gần 615 ngàn tấn. Ngày càng có nhiều tàu mới, hiện đại với trọng tải lớn được bổ sung vào đội tàu biển Việt Nam. Đội tàu của chúng ta đã có đầy đủ các loại tàu thương mại khác nhau, bao gồm cả tàu chở hóa chất, chở khí hóa lỏng, cao tốc và chở khách. Các con tàu treo cờ đỏ sao vàng ngày càng xuất hiện nhiều hơn ở khắp các hải cảng của mọi đại dương, góp phần mang hình ảnh của đất nước Việt Nam đổi mới, năng động đến với bạn bè 5 châu. Đội thương thuyền Việt Nam đã vươn xa đến các thị trường mới ở Ôxtrâylia, Tây Âu, Nam Mỹ, Tây Phi và mới đây là Hoa Kỳ.
Mặc dù đã có nhiều cải thiện đáng kể, nhưng hiện tại chất lượng đội tàu biển Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập. Tuổi trung bình của cả đội tàu là 14,5 năm. So với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, chúng ta đang sở hữu một đội tàu khá “già”. Chúng ta có tới 151 tàu từ 30 tuổi đến 65 tuổi, trong đó có 46 tàu hoạt động tuyến quốc tế. Tàu “già” nhất hoạt động tuyến quốc tế của Việt Nam hiện nay là 45 tuổi. Đội tàu biển Việt Nam có thành phần rất phức tạp, từ các tàu gỗ truyền thống ven biển vài chục tấn đến các tàu dầu hiện đại 100.000 tấn hay tàu chứa dầu 150.000 tấn.
Do hạn chế về mặt tài chính, các chủ tàu của Việt Nam phải chấp nhận mua để khai thác các con tàu đã được nước ngoài khai thác tối đa trong khoảng 10 - 15 năm. Các tàu này vẫn còn được xem là “tàu mới, tàu tốt” so với đội tàu hiện có mang cờ Việt Nam. Trong điều kiện giá tàu trên thị trường thế giới tăng rất cao, thời gian tới chúng ta khó có thể có được các tàu mới và hiện đại mua ở nước ngoài. Không ít các tàu do chủ tàu Việt Nam mua trong thời gian vừa qua có độ tuổi 20 - 30 tuổi và buộc phải mang cờ quốc tịch nước ngoài.
Các tàu đóng mới trong nước cũng còn rất nhiều hạn chế về mặt kỹ thuật, đặc biệt là các tàu đóng tại các cơ sở đóng tàu nhỏ của địa phương và tư nhân. Thêm vào đó, các tiêu chuẩn về an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với tàu biển của các điều ước quốc tế ngày càng cao hơn và nghiêm ngặt hơn. Những vấn đề trên đây chính là nguyên nhân chủ yếu làm cho đội tàu Việt Nam còn khá nhiều hạn chế về chất lượng kỹ thuật và vẫn còn tàu dưới tiêu chuẩn. Việc duy trì cho đội tàu như vậy đáp ứng thỏa mãn đầy đủ các quy định về an toàn và bảo vệ môi trường của quốc gia cũng như quốc tế là một điều hết sức khó khăn.
Hiện nay cả nước có trên 500 chủ tàu biển (trong đó có 147 chủ tàu chạy tuyến quốc tế) - đây là con số quá lớn so với tổng dung tích đội tàu biển Việt Nam. Thời gian gần đây, số lượng các doanh nghiệp vận tải biển tư nhân đã gia tăng một cách nhanh chóng. Theo đánh giá của VR, công tác quản lý tàu của các chủ tàu lớn được thực hiện tương đối tốt và có rất nhiều tiến bộ. Các chủ tàu này đã áp dụng các phương pháp quản lý tiên tiến, thường xuyên cập nhật đầy đủ các quy định liên quan của quốc tế để triển khai áp dụng kịp thời. Hệ thống quản lý an toàn theo quy định của Bộ Luật Quản lý an toàn quốc tế được thực hiện một cách hiệu quả, góp phần quan trọng trong việc đảm bảo khả năng hoạt động an toàn và bảo vệ môi trường của đội tàu các công ty nói trên, từ đó làm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung.
Tuy vậy, điều chúng ta cần quan tâm hơn là công tác quản lý tàu của các công ty vận tải biển địa phương và tư nhân. Nhiều chủ tàu chưa thực sự có đủ năng lực, nhưng vẫn vươn ra biển, thậm chí là biển quốc tế. Các chủ tàu này chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc quản lý tàu, đặc biệt là quản lý an toàn; sự hiểu biết về các quy định quốc gia, quốc tế liên quan đến an toàn và bảo vệ môi trường trong lĩnh vực hàng hải còn nhiều hạn chế, lại không được cập nhật thường xuyên. Họ chưa có sự đầu tư đúng mức cho việc bảo dưỡng, sửa chữa, trang bị lại để duy trì trạng thái kỹ thuật tàu và chưa có sự quan tâm thỏa đáng trong công tác tuyển dụng, đào tạo đội ngũ cán bộ công ty, sỹ quan và thuyền viên trên tàu để có đủ khả năng đáp ứng công việc. Cùng với vấn đề chất lượng và số lượng đội ngũ thuyền viên, năng lực quản lý tàu yếu kém của một số chủ tàu là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến nhiều sự cố hàng hải đáng tiếc trong thời gian vừa qua và đặc biệt là làm tăng đáng kể số lượng và tỷ lệ tàu treo cờ Việt Nam bị lưu giữ ở nước ngoài.
Theo ThuongMai









