Mãi nhỏ lẻ, làm sao cạnh tranh?
“Vào WTO, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ hàng hải của chúng ta mới biết thực sự thế nào là cạnh tranh” - câu nói trên của một chuyên gia trong lĩnh vực này đã được minh chứng sau hơn một năm nước ta thực sự bước qua cánh cửa hội nhập.
Hơn một năm trước, khi Công ty Hợp tác lao động với nước ngoài phía Nam (Inlaco Sài Gòn) bị mất đối tác quan trọng là hãng tầu Wan Hai cùng với việc hàng loạt các hãng tầu, đại lý vận tải quốc tế lớn như MITSUI, NYK, K-LINE... liên tiếp gây sức ép xin thành lập công ty 100% vốn nước ngoài, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ hàng hải của chúng ta đã bắt đầu thấm thía “gánh nặng” trên con đường gia nhập WTO.
Cho đến thời điểm hiện tại, “gánh nặng” này càng trở nên rõ rệt hơn bao giờ hết. Theo ông Trần Dũng Kháng - Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Đại lý Hàng hải Việt Nam, hiện tại, tất cả các hãng tàu lớn đến Việt Nam có tàu thường xuyên ra vào cảng của chúng ta đều đã và đang thành lập hoặc là công ty 100% vốn của mình hoặc là liên doanh từ 49 - 51% theo điều kiện luật pháp Việt Nam cho phép để làm đại lý tàu và đại lý vận tải hàng hoá. Vì vậy, doanh thu của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ hàng hải không những sụt giảm theo tỷ lệ góp vốn mà còn do chính cơ cấu lợi nhuận được định sẵn bởi những hãng tàu này. So với con số 25- 30% lợi nhuận thu được trên tổng doanh thu trước đây giờ chỉ còn xấp xỉ 5 - 10%.
Theo nhận định chung của nhiều chuyên gia, hoạt động dịch vụ hàng hải của chúng ta hiện nay còn rất phân tán, manh mún, chưa đạt trình độ chuyên môn hoá cao, chưa xây dựng được mạng lưới dịch vụ hoàn chỉnh và đồng bộ trong khu vực và trên cả nước. Nhiều dịch vụ mới chỉ dừng ở công đoạn làm đại lý, chưa đủ sức mạnh cạnh tranh, phạm vi hoạt động còn hẹp, chưa vươn ra được thị trường quốc tế.
Nguyên nhân đơn giản là do quy mô các doanh nghiệp của chúng ta chủ yếu là vừa và nhỏ, hạn chế về nguồn vốn cũng như hạn chế về khả năng marketing toàn cầu, nguồn nhân lực của chúng ta chưa đủ đáp ứng. Và cái “khởi đầu nan” chính là việc các doanh nghiệp dịch vụ đang rơi vào tình trạng mất dần nguồn công việc.
Một điều dễ dàng nhận thấy là tuy việc làm dịch vụ hàng hải luôn mang lại lợi nhuận tương đối cao nhưng tính bền vững thì lại tỷ lệ nghịch với lợi nhuận. Trường hợp của Inlaco Sài Gòn được coi là một ví dụ điển hình. Sau 13 năm cộng tác, mối quan hệ giữa công ty này và hãng tàu Wan Hai tưởng như “khó thể chia tách”.
Vậy mà đùng một cái, Wan Hai “dứt áo ra đi” và Inlaco Sài Gòn “bỗng dưng” bị giảm khoảng trên 80% lợi nhuận. Được biết, hãng tàu này đã thay đại lý mới là Công ty TNHH Phoenix Shipping mà theo nhiều nguồn tin thực tế là thuê bảng hiệu để hợp pháp hoá kinh doanh.
Vậy làm thế nào để doanh nghiệp VN có thể đứng vững và đi lên trong tình trạng cơ sở hạ tầng và trang thiết bị còn yếu kém, hệ thống kho bãi nhỏ, quy mô rời rạc, các phương tiện như đóng gói mã hoá, dây chuyền, băng tải, xe nâng, điều kiện an toàn, an ninh... còn thô sơ?
Phát biểu tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ, kế hoạch năm 2008, ông Mai Văn Phúc - Tổng giám đốc Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) nhấn mạnh: Cùng với quá trình mở cửa, hội nhập kinh tế của đất nước, xu hướng dịch chuyển đại lý của các hãng tàu là tất yếu. Vì vậy, để giữ khách hàng truyền thống, các doanh nghiệp cần tiến hành liên doanh, liên kết, kết hợp với việc nâng cao chất lượng dịch vụ, tập trung đầu tư hoàn thiện cơ sở vật chất như hệ thống kho bãi, phương tiện bốc xếp và phương tiện vận chuyển để phục vụ cho sản xuất kinh doanh.
Ngoài ra, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ hàng hải cũng cần tiến hành xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao, có trình độ ngoại ngữ, am hiểu luật pháp và tập quán ngành hàng hải, tạo dựng và bảo vệ thương hiệu, giữ uy tín trong kinh doanh. Cùng với đó, các doanh nghiệp cũng cần chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao chất lượng dịch vụ và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Được biết, năm 2007, trong điều kiện các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ hàng hải gặp rất nhiều khó khăn, một số doanh nghiệp hoạt động dịch vụ hàng hải của Vinalines vẫn đạt được tốc độ tăng trưởng cao so với năm 2006.
Trong số này, có thể kể đến Vinconship Việt Nam với doanh thu 200 tỷ đồng, lợi nhuận 59 tỷ đồng, Công ty Vijaco đạt doanh thu 125 tỷ đồng, lợi nhuận 13,5 tỷ đồng, Công ty Thương mại xăng dầu đường biển Vinalines đạt sản lượng nhập khẩu xăng dầu khoảng 207 ngàn tấn, doanh thu 1.684 tỷ đồng...
Theo GTVT









